Subscribe:

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2012

Đậu đỏ - một vị thuốc tốt

Đậu đỏ - một vị thuốc tốt
Đậu đỏ còn có tên gọi là Xích tiểu đậu.
Tuy không được dùng rộng rãi trong chế biến thực phẩm, đậu đỏ được các thấy thuốc Đông y coi là một vị thuốc dễ sử dụng và an toàn. Nghiên cứu của y học cổ truyền và ứng dụng thực tế cho thấy, đậu đỏ có tính mát, giúp giải nhiệt, tiêu độc, tiêu thũng trong người.
Sau đây là hai ứng dụng cụ thể của đậu đỏ:
- Người bị kiết lỵ lâu ngày khó chữa trị nên ăn đậu đỏ thường ngày, có thể nấu cháo, nấu canh hoặc nấu chè tùy sở thích.
- Đậu đỏ có tác dụng tiêu viêm, trị mụn nhọt gây đau nhức. Rang đậu cho giòn, sau đó giã nhuyễn, trộn chung với giấm thành hỗn hợp cô đặc; đắp thuốc lên chỗ đau, ngày thay vài lần sẽ chóng tiêu viêm.

Bài thuốc từ đậu đen


Đậu đen không chỉ làm thức ăn trong những ngày hè nóng bức mà còn có nhiều công dụng chữa bệnh. Mời bạn tham khảo các bài thuốc sau đây để có thể áp dụng một cách hiệu quả nhất.
Đậu đen là một thực phẩm quen thuộc, dân dã và rất lành. Trong số các axit amin có ở đậu đen, thì có rất nhiều thứ cần cho cơ thể như lyxin, meslionin, tritophan, phenylamin, leuxin, arginin, histiclin...
Theo Đông y, đậu đen có tính hơi hàn (mát), vị ngọt, là thuốc bổ âm, bổ can thận, bổ huyết, giải độc, trừ phong nhiệt độc, lợi tiểu, được sử dụng rộng rãi.
Đậu đen dùng làm tá dược tốt để làm thuốc Đông y (có thể giảm chát và tăng khả năng bổ huyết của Hà thủ ô...). Nhưng do đậu đen hơi hàn nên những ai bị hư hàn (loét hành tá tràng, dễ tiêu chảy...) khi ăn nên cho khoảng 5 lát gừng tươi và bát chè thuốc để dùng.
Một số bài thuốc chữa bệnh bằng đậu đen
1. Chữa đau bụng dữ dội, chưa rõ nguyên nhân
Đậu đen 100g, sao cháy, sắc lấy nước đặc cho thêm rượu, uống nóng 1 lần. Cơn đau giảm nhanh, nhưng cũng cần đưa bệnh nhân đi khám ngay lập tức ở bệnh viện để có chẩn đoán và xử lý kịp thời.
2. Hỗ trợ chữa tiểu đường do thận hư
Đậu đen, thiên hoa phấn, mỗi thứ 10g, sắc uống hàng ngày có tác dụng giảm triệu chứng uống nhiều, tiểu nhiều rất rõ rệt.
3. Chữa lưng đau ê ẩm, cứng đờ, cử động khó (thoái hóa cột sống)
Đậu đen: 300g sao vàng, 300g nấu chín nhừ, 300g cho vào chõ đồ chín. Trộn đều ba loại trên cho vào 2 lít rượu chưng cách thủy 30 phút, sau đó ngâm tiếp 7 ngày, mỗi ngày uống 1 chén nhỏ vào bữa ăn (tổng lượng 100ml/ ngày). Ngoài ra có thể dùng rượu cho thêm ít gừng tươi xào nóng, xoa bóp lưng rất hiệu nghiệm.
4. Chữa mụn nhọt trong tai sưng đau
Mụn này rất quái ác, vừa làm đau tai, thêm đau đầu, vướng víu mà không sao đắp, bôi thuốc gì vào được. Thời chống chiến chanh phá hoại đế quốc Mỹ, ở nơi sơ tán, chúng tôi nghe lời mách của "thầy lang vườn" như sau:
Đậu đen ½ bát cho vào ấm rồi đổ nước ninh, lấy lá chuối tươi bịt kín miệng ấm, vòi ấm nút bằng lá chuối khô. Khi sôi khoảng 5 phút lấy một ống giấy bắc vào vòi ấm và ghé tai vào xông (tránh bỏng do lửa) mỗi lần khoảng 15-20 phút. Người xông và người đun phải tự điều chỉnh sao cho vừa đủ nóng.

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2012

HẠT KÊ và Công dụng của hạt Kê


Một chén chè kê vào những ngày mùa hè có thể giúp bạn giải nhiệt. Nghiên cứu của các nhà khoa học tại Viện Dinh dưỡng Ấn Độ cho thấy, hạt kê còn có tác dụng lợi tiểu, ngừa sỏi thận, tiêu chảy và tiểu đường.Riêng những ai hay bị đau bao tử, mắc chứng khó tiêu dùng hạt kê trong chế độ ăn hằng ngày cũng sẽ có lợi. Kê còn giúp làm sạch miệng, chống hôi miệng do có công dụng làm chậm quá trình sinh sôi nảy nở của các loại vi khuẩn trong miệng. Hạt kê do giàu axit amin và silic nên giúp các thai phụ ngừa sẩy thai và tình trạng nôn ọe mỗi sáng. Kê còn có tác dụng chống các loại nấm trên cơ thể.
Bộ phận dùng: Hạt và mầm hạt (Cốc nha hay Túc nha) - Semen Setariae et Fructus Setariae Germinatus.
Nơi sống và thu hái: Gốc ở Ấn độ, được trồng nhiều để lấy hạt làm lương thực và làm thức ăn gia súc. Cây mọc nhanh, có thể mọc trên các loại đất cát vùng đồng bằng và cả ở trên các vùng núi.
Thành phần hoá học: Sau khi sấy vỏ, hạt chứa 73% hydrat carbon, 10,8% protein và 2,9% lipid. Các acid amin từ protein được giải phóng do sự lên men thấp hơn ở sữa và Lúa mì.
Tính vị, tác dụng: Kê có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ thận. Ở Ấn độ, được xem như lợi tiểu và thu liễm. Cốc nha có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng tiêu thực hoà trung, kiện tỳ khai vị; cốc nha sao lại tiêu thực; còn cốc nha tiêu (sao cháy) có tác dụng làm tiêu tích trệ.
Công dụng: Kê thuộc loại lương thực thường dùng trong nhân dân. Cũng được dùng làm thuốc chữa lậu nhiệt, ho nhiệt, ho khan.
Ở Ấn độ, người ta dùng ngoài trị thấp khớp và là vị thuốc gia dụng làm dịu các cơn đau do sinh đẻ.
Ở Trung quốc, hạt dùng nấu cháo cho người đau dạ dày và bột các hạt đã rang, pha với nước mật dùng cho trẻ em bị bệnh nhọt. Cốc nha dùng chữa ăn uống không tiêu, bụng đầy miệng hôi, tỳ vị hư yếu; kém ăn; cốc nha sao dùng trị kém ăn; cốc nha tiêu dùng trị tích trệ không tiêu. Liều dùng 9-15g.
Đơn thuốc:
1. Chữa âm hư háo khát, mỏi mệt bải hoải sau những buổi thức đêm mất ngủ hay lao động, phòng dục quá độ, trong người hấp nóng, ho, mồ hôi trộm, khó ngủ: dùng hạt Kê nấu chè đường ăn thì mát khoẻ, lại sức.
Lượng vitamin B1, B2 có trong hạt kê cao hơn từ 1 – 1,5 lần so với lúa gạo. Ngoài ra trong hạt kê còn có chứa nhiều nguyên tố vi lượng khác như methionine (một amino axit thiết yếu) vì thế hạt kê có tác dụng duy trì tế bào não, tăng cường trí nhớ và làm giảm quá trình lão hóa.

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2012

Thực phẩm chữa bệnh thiếu máu

Nước ép củ cải đường rất tốt cho bệnh thiếu máu. (Ảnh minh họa)

 - Thiếu máu là một căn bệnh có liên quan đến tình trạng cơ thể có lượng tế bào máu đỏ hoặc huyết sắc tố (là thành phần chính của hồng huyết cầu, làm cho máu có màu đỏ) ít hơn so với mức bình thường.
Hãy đến với chuyên mục Sức khỏe của Eva để tìm hiểu những bí quyết ăn ngon, ăn chuẩn, tham khảo những bệnh thường gặp trong cuộc sống, bệnh 'vùng kín' của chị em và những bài thuốc hay rất hữu hiệu cho mẹ và bé.
Những người mắc bệnh thiếu máu sẽ có ít năng lượng để đáp ứng cho các hoạt động thông thường hàng ngày trong cuộc sống do suy giảm lượng ô-xy cung cấp cho các tế bào. Nguyên nhân chính gây ra bệnh thiếu máu là sự thiếu hụt chất sắt, vốn rất cần thiết cho việc tạo ra các huyết sắc tố.

Sắt là một loại khoáng chất vi lượng rất quan trọng trong cơ thể vì chúng được sử dụng để sản xuất ra các huyết sắc tố. Do đó, chúng ta cần phải tiêu thụ nhiều những thực phẩm giàu chất sắt. Tuy nhiên, phần lớn các loại thực phẩm tự nhiên đều không có đủ lượng sắt cần thiết cho nhu cầu của những người đang bị thiếu hụt chất sắt. Có hai loại chất sắt là heme iron và non-heme iron. Chất sắt heme được cơ thể hấp thu dễ dàng hơn và chỉ có trong thịt.

Đối với những người ăn chay, nguồn cung cấp chất sắt duy nhất có giá trị đối với họ là chất sắt non-heme, loại mà cơ thể rất khó hấp thu. Tuy nhiên, để giải quyết rắc rối này, những người ăn chay có thể tăng cường thêm những thực phẩm giàu vitamin C để trợ giúp cho cơ thể trong việc sử dụng chất sắt non-heme và làm tăng tỷ lệ hấp thu loại chất sắt này. Để chữa trị bệnh thiếu máu, hãy tập trung vào những thực phẩm được liệt kê dưới đây.

1. Mật ong

Mật ong giúp ích rất hiệu quả cho việc tích tụ chất sắt trong máu vì chúng chứa một lượng chất sắt và man-gan dồi dào. Loại thực phẩm này còn giúp duy trì sự cân bằng giữa các huyết cầu máu đỏ và huyết sắc tố.

2. Nước ép củ cải đường

Loại rau củ này có liên quan đến số lượng cũng như chất lượng tạo máu trong cơ thể con người. Hàm lượng chất sắt phong phú trong củ cải đường giúp làm hồi phục các tế bào máu đỏ và hỗ trợ việc cung cấp ô-xy mới cho cơ thể. Nước ép củ cải đường nên được làm từ những cây củ cải đường còn tươi. Trong củ cải đường có chứa phốt pho, các vitamin A và C, a-xít folic và biotin. So với các loại chất dinh dưỡng tổng hợp khác, những dưỡng chất do củ cải đường cung cấp dễ được hấp thu hơn. Ngoài ra, củ cải đường còn được biết đến với khả năng làm tăng sự hấp thu ô-xy do máu cung cấp lên tới 400%.

3. Những thực phẩm xanh

Thực phẩm xanh là một phần không thể thiếu trong chế độ ăn uống của những người đang mắc bệnh thiếu máu. Các loại rau có lá màu xanh đậm cung cấp lượng vitamin A, C, K và folate cực kỳ dồi dào. Rau xanh như rau bina, bông cải xanh và những loại rau có màu xanh đậm khác cung cấp rất nhiều chất sắt non-heme. Do đó, cần dùng thêm những thực phẩm giàu vitamin C để việc hấp thu loại chất sắt này trở nên dễ dàng hơn.
Thực phẩm chữa bệnh thiếu máu, Sức khỏe, thieu mau, benh thieu mau, thuc pham cho nguoi thieu mau, suc khoe, bao phu nu,
Hải sản rất tốt cho người thiếu máu. (Ảnh minh họa)
4. Thịt

Nếu không phải là người ăn chay và đang tìm kiếm những biện pháp hiệu quả để điều trị bệnh thiếu máu thì một số loại thịt có thể là một chọn lựa tốt như thịt bò, heo và gan động vật bởi vì đây đều là những nguồn cung cấp chất sắt dồi dào. Thí dụ trong 55g thịt bò có chứa khoảng 5 mg chất sắt. Thịt bò vẫn được xem là một trong những loại thực phẩm cung cấp chất sắt tốt nhất. Tuy nhiên, bạn cũng không nên tiêu thụ quá nhiều các loại thịt này vì chúng chứa nhiều cholesterol nên sẽ gây bất lợi cho “sức khỏe” của hệ tim mạch.

5. Hải sản

Các loại hải sản cũng có nhiều chất sắt nên vẫn được xếp vào danh sách những thực phẩm có ích trong việc điều trị bệnh thiếu máu. Trong các loại hải sản, sò sẽ cung cấp lượng chất sắt tối đa với khoảng 13 mg chất sắt trong 85g sò. Hải sản còn chứa nhiều vitamin B12. Thiếu hụt loại vitamin này cũng khiến cho cơ thể mắc bệnh thiếu máu.

6. Lương thực thô

Do có hàm lượng chất sắt cao nên các loại lương thực thô cũng được đánh giá là có hiệu quả trong việc chữa bệnh thiếu máu. Những loại lương thực thô có chứa nhiều chất sắt bao gồm bột yến mạch, nui, bột mì và hạt kê. Chúng là một phần quan trọng trong chế độ ăn uống nhằm tăng cường thêm lượng máu cho cơ thể. Lương thực thô còn là một nguồn cung cấp carbohydrate khá tốt. Tuy nhiên, để không bị tăng cân do mức năng lượng dồi dào mà các loại lương thực thô mang lại, bạn có thể chế biến chúng thành các món ăn sáng dùng kèm với sữa ít béo.

7. Rau xanh

Rau xanh là những loại thực phẩm có chứa chất sắt non-heme. Lượng chất sắt mà cơ thể hấp thu từ những nguồn thực phẩm này là vô cùng lớn, phụ thuộc vào sự đa dạng của các loại thực phẩm mà bạn đã dùng. Cơ thể không thể hấp thu chất sắt non-heme mà cần phải có sự trợ giúp của vitamin C. Những loại trái cây lại rất giàu vitamin C nên sẽ giúp cơ thể hấp thu được chất sắt trong rau xanh. Chính vì vậy, nên tập trung ăn nhiều các loại rau xanh và trái cây mỗi ngày để đáp ứng cho nhu cầu chất sắt mà cơ thể cần trong quá trình điều trị bệnh thiếu máu. Những loại rau có nhiều chất sắt là rau bina, đậu ve và khoai lang. Lượng chất sắt có trong một chén đậu ve là khoảng 3 mg và một lượng khoai lang tương tự sẽ chứa khoảng 2 mg chất sắt.

8. Đậu lăng


Cũng giống như các loại rau xanh khác, đậu lăng cung cấp nhiều chất sắt non-heme. Trong một chén đậu lăng chứa khoảng 6,5 mg chất sắt, đậu nành chứa khoảng 9 mg. Nấu những loại đậu này chung với rau xanh chính là một cách để cơ thể hấp thu được lượng chất sắt có trong đậu. Tuy nhiên, mặc dù có lượng chất sắt dồi dào nhưng cũng không nên dùng quá nhiều đậu lăng vì chúng có thể làm hơi gas tích tụ nhiều trong bao tử, gây đầy hơi và khó tiêu hóa.

9. Thịt gia cầm

Bênh cạnh hàm lượng protein có chất lượng cao, thịt gia cầm còn chứa nhiều chất sắt. Thịt gà tây sẽ cung cấp khoảng 1,5 mg chất sắt cho mỗi 85g thịt. Chất sắt trong các loại thịt như thịt bò là chất sắt heme nên cơ thể dễ hấp thu mà không cần đến sự trợ giúp của những nguồn thực phẩm có chứa vitamin C.

Chú ý tăng cường những loại thực phẩm kể trên vào thực đơn hàng ngày bên cạnh việc tiêu thụ nhiều những thứ giàu vitamin C chính là một trong những cách hiệu quả nhất để điều trị bệnh thiếu máu. Bên cạnh đó, cần cố gắng tập thể dục đều đặn bằng những bài tập nhẹ nhàng, không quá sức khi cơ thể bạn còn đang yếu như đi bộ, đạp xe… sẽ giúp ích rất nhiều cho cơ thể, giúp bạn cảm thấy khỏe mạnh và vui vẻ hơn.

Khế - dược liệu đa năng

Khế có nhiều công dụng.
  Khế có rất nhiều công dụng tốt mà không phải ai cũng biết.
Cây khế còn gọi là ngũ liễm, tên khoa học Averrhoa carambola L., thuộc họ chua me (Oxalidaceae).
Khế có nguồn gốc ở các xứ nóng vùng Đông Nam Á. Ở Việt Nam, khế được trồng rộng rãi khắp nơi với hai giống khế múi là khế ngọt và khế chua. Tên Averrhoa được lấy từ tên của người thầy thuốc Ả rập thế kỷ thứ XII là Averrhoes, người đã phát hiện khế là một loại dược liệu chữa được nhiều bệnh: “Dùng trộn với hồ tiêu để làm ra mồ hôi, giã nhỏ rồi đắp lên người để đánh tan sự rã rời, bải hoải; chữa bệnh ngứa nếu đắp khi còn nóng, kích thích hoạt động của mắt, dùng cho phụ nữ sau khi sinh, chữa ho, chữa sưng hạch tiết nước bọt, đau khớp xương, ung nhọt, phù thũng, sưng họng…”. Trong 100g khế có chứa các chất sau: nước 92g, protein 0,3g, lipid 0,4g, glucid 5,7g, cellulose 1g, tro 0,3g; các nguyên tố vi lượng: Ca 8mg, P 15mg, Fe 0,9mg, Na 2mg, K 181mg; các vitamin: A 135mg, B1 0,04mg, B2 0,03mg, PP 0,3mg và vitamin C 32mg.
Khế múi có hàm lượng acid oxalic 1%, ít chua, là món ăn thông dụng của người Việt Nam. Người ta thường ăn tươi, làm rau, chấm mắm, nấu canh chua với tôm, tép, cá hoặc xào với thịt bò, sò, hến… rất ngon.
Do có tính khử mùi tanh và làm cho nguyên liệu mềm hơn nên từ lâu dân ta đã dùng khế làm gia vị nấu các món ăn như: canh lươn nấu khế, khế xanh nấu ốc nhồi, canh bò nấu khế chua, cá lóc nấu canh khế…
Khế - dược liệu đa năng, Bài thuốc hay, Sức khỏe, bai thuoc hay tu khe, bai thuoc tu khe, khe duoc lieu da nang, khe chua ho, suc khoe, bao phu nu Khế có rất nhiều công dụng tốt mà không phải ai cũng biết.
Quả chín còn dùng làm mứt để ăn. Ăn một quả khế nhỏ có thể cung cấp 1/3 lượng vitamin C cần thiết cho cơ thể mỗi ngày. Quả khế còn chứa nhiều chất xơ, có tác dụng nhuận tràng, chống táo bón. Theo Đông y, quả khế gọi là ngũ liễm tử, có vị chua chát, tính bình, không độc, tác dụng khử phong, thanh nhiệt, sinh tân dịch, giải uế, giúp làm lành vết thương. Thường được dùng chữa cảm sốt, khát nước, ngộ độc rượu, đi tiểu ít, nhiệt độc, vết thương chảy máu.
Ngày dùng 40-80g khế tươi, ăn sống như rau hoặc giã nát vắt lấy nước uống. Dùng quả khế ép lấy nước uống để giải nhiệt cũng như chống cảm nắng vào mùa hè oi nực rất tốt, chữa sưng răng lợi, loét mồm miệng và giảm đường huyết.
Hoa khế có vị ngọt, tính bình, tác dụng giải độc tiêu viêm, thường dùng chữa sốt rét, ho khan, ho đàm, kiết lỵ, trẻ em bị kinh giản. Người ta thường dùng hoa khế tẩm nước gừng hoặc tẩm rượu gừng rồi sao thơm, sắc uống để chữa ho đàm. Ngày dùng 4-12g.
Vỏ thân và lá khế có vị chua, chát, tính bình, tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm. Thường dùng chữa sổ mũi, viêm dạ dày - ruột, đi tiểu ít, chấn thương bầm dập, mụn nhọt, viêm mủ da.
Liều dùng: vỏ thân ngày dùng 10-20g; lá khế ngày dùng 20-40g, sắc uống.
Có thể dùng vỏ thân và lá nấu nước, trong uống ngoài đắp hoặc tắm để chữa lở sơn, mẩn ngứa, mề đay.
Rễ khế có vị chua, chát, tính bình, tác dụng trừ phong thấp, giảm đau. Thường dùng chữa đau nhức tay chân do phong thấp. Ngày dùng 12-20g, sao cho thơm, sắc uống.
Sau đây là một số bài thuốc có dùng khế chữa bệnh:

- Chữa nước ăn chân, lở loét, đau nhức: lấy một-hai quả khế chín, lùi trong tro nóng, để vừa ấm rồi áp lên chỗ đau.


-
Chữa bí tiểu, đau tức bàng quang: khế chua bảy quả, mỗi quả chỉ lấy 1/3 phía gần cuống. Nấu với 600ml nước, sắc còn 300ml, uống lúc còn ấm nóng. Ở ngoài, lấy một quả khế và một củ tỏi giã nhuyễn, đắp vào rốn.

-
Chữa cảm cúm, mình mẩy đau nhức: khế chua ba quả, nướng chín, vắt lấy nước cốt, hòa với 50ml rượu trắng, uống một lần, hoặc chia làm hai lần uống vào lúc không no không đói quá.

-
Chữa cảm sốt, nhức đầu, đi tiểu ít, cảm nắng: lá khế tươi 100g sao thơm, nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia hai lần uống trước bữa ăn.
Hoặc dùng lá khế tươi 100g, lá chanh tươi 20-40g, hai thứ rửa thật sạch, giã nát, vắt lấy nước, chia hai lần uống trước bữa ăn.

-
Chữa viêm họng cấp: lá khế tươi 80-100g, thêm ít muối, giã nát, vắt lấy nước cốt, chia hai-ba lần để ngậm và nuốt dần.

-
Chữa ho khan, ho có đàm: hoa khế (sao với nước gừng) 8-12g, cam thảo nam 12g, tía tô 8-10g, kinh giới 8-10g. Nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia hai lần uống trươc bữa ăn.
Ngoài loại khế múi nói trên, còn có một loại khế thường gặp ở các tỉnh phía Nam gọi là khế dưa chuột (Averrhoa bilimbi L.), quả hình trụ dài 5-10cm, giống như quả dưa chuột, đôi khi cũng có khía lõm nhưng không sâu như khế múi. Loại khế này có màu lục vàng và trong suốt, khi chín rất chua vì hàm lượng acid oxalic lên tới 6% nên thường được dùng muối dưa, ngâm nước muối, nước mắm để ăn, hoặc làm xirô để giải khát.
LƯƠNG Y ĐINH CÔNG BẢY
                                                                                      (Theo PNO)

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

6 nhóm dinh dưỡng cho sắc đẹp


Mới đây, các nhà nghiên cứu về dinh dưỡng và sức khỏe cộng đồng đã đưa ra khuyến cáo bổ ích cho chị em phụ nữ, để có cơ thể cân đối, da đẹp hồng hào hãy chú ý 6 nhóm dinh dưỡng sau:

1. Vitamin tổng hợp nhóm B
Loại vitamin đóng vai trò hình thành các tế bào mới trong cơ thể, điều này có nghĩa là nếu không đủ loại vitamin này thì ngay lập tức nó sẽ thể hiện trên da, tóc và móng tay, móng chân. Không những thế, chúng còn cần thiết để phòng chống sự hình thành các loại axít gây ra các bệnh như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, tiểu đường, suy nhược trí tuệ ở những người già và một số loại bệnh mãn tính khác

Loại vitamin này thường có trong bánh mỳ, mỳ ống, bắp cải, đậu…

2. Canxi

Một thành phần quan trọng cấu tạo khung xương, ngăn chặn sự hao mòn xương. Cùng với thời gian, bệnh loãng xương sẽ đe dọa tới mọi người, nhưng chủ yếu là ở nữ giới. Có thể dễ dàng nhận ra sự thiếu canxi trong cơ thể thông qua biểu hiện bất thường của tóc và móng tay, móng chân.

Theo khuyến cáo, chị em nên bổ sung 1000 mg canxi/ngày trước khi mãn kinh và 1200 mg/ngày sau khi mãn kinh. Ngoài ra, canxi còn có nhiều trong thực phẩm như sữa bột, bắp cải trắng, cây cải xanh, cua đồng, vừng (mè) các loại rau màu xanh đậm…

3. Vitamin D

Vitamin D giúp cho cơ thể hấp thụ được nhiều hơn canxi từ thức ăn. Ngoài ra, loại vitamin này còn giúp cơ thể chống chọi lại với một số loại bệnh nghiêm trọng, trong đó có ung thư (ung thư vú, ung thư cổ tử cung. Loại vitamin này thường có trong cá, sữa và trứng.

4. Nhóm Sắt

Sắt đóng vai trò rất quan trọng trong việc bổ sung tế bào cho cơ thể. Nó góp phần bổ sung và duy trì năng lượng cũng như hoạt động của các chức năng khác trong cơ thể. Lời khuyên của các chuyên gia là nên bổ sung 18 mg/ngày trước thời kỳ mãn kinh và 8 mg sau khi mãn kinh. Trong thời kỳ mang thai nên bổ sung nhiều hơn, 27 mg/ngày.

Sắt thường có trong thịt bò, rau muống, rau ngót và các loại củ.

5. Chất xơ

Một nhóm chất không thể thiếu để cung cấp các vitamin và khoáng chất chống chất oxy hoá - thủ phạm gây già, và giữ cho cơ thể cân đối, tránh béo phì. Mỗi ngày, trong thực đơn bạn nên cung cấp ít nhất 5 loại rau củ quả khác nhau để có thể tận dụng được sự đa dạng của các chất.

6. Axit béo Omega-3

Đây là loại axit béo rất tốt cho cơ thể. Thường xuyên sử dụng loại axit béo này có thể giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch tới 3 lần. Loại axit béo này rất hữu hiệu đối với những người ngoài 45 tuổi. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng chứng tỏ rằng, loại axit béo này còn có khả năng chống viêm nhiễm, giảm các triệu trứng của các loại bệnh khác như viêm khớp.

Axít Omega – 3 có nhiều trong cá, rau lá xanh sẫm, đỗ tương và đậu phụ; các loại hạt như hạt hướng dương, hạt vừng, hạt điều và hạt lanh; các loại dầu ăn như dầu hạt lanh, dầu hạt cải và dầu nành; trứng